NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN

NỘI DUNG TUYÊN TRUYỀN KỶ NIỆM 45 NĂM THÀNH LẬP HUYỆN SÓC SƠN (1977-2022)
Ngày đăng 22/06/2022 | 15:55  | Lượt xem: 239

I. GIỚI THIỆU KHÁI QUÁT

Ngày 05/7/1977, Hội đồng Chính phủ ra Quyết định số 178/QĐ-CP hợp nhất các huyện theo vùng quy hoạch của tỉnh Vĩnh Phú. Trong đó, hai huyện Đa Phúc và Kim Anh hợp nhất thành huyện Sóc Sơn (tên gọi của huyện được lấy theo tên dãy núi gắn liền với truyền thuyết nơi Thánh Gióng sau khi đánh thắng giặc về trời - Núi Sóc).

Lúc này, huyện Sóc Sơn có 29 xã và 01 thị trấn (gồm 14 xã của huyện Đa Phúc, 15 xã của huyện Kim Anh và Thị trấn Xuân Hòa). Cũng theo Quyết định này, 02 xã của huyện Kim Anh là Quang Minh và Kim Hoa chuyển về huyện Mê Linh.

Ngày 01/4/1979, thực hiện chủ trương về quy hoạch địa giới hành chính đối với Thủ đô Hà Nội, Chính phủ quyết định chuyển huyện Sóc Sơn của tỉnh Vĩnh Phú về Thành phố Hà Nội. Cũng theo quyết định, 04 xã gồm: Ngọc Thanh, Cao Minh, Nam Viêm, Phúc Thắng và Thị trấn Xuân Hòa chuyển về huyện Mê Linh. Lúc này, huyện Sóc Sơn còn 25 xã. Ngày 03/3/1987, Thị trấn Sóc Sơn được thành lập theo Quyết định số 45/HĐBT của Hội đồng Bộ trưởng - nay là Chính phủ, từ đó huyện Sóc Sơn có 25 xã và 01 Thị trấn.

1. Địa giới:

Phía Bắc: giáp Thành phố Phổ Yên, tỉnh Thái Nguyên; Phía Đông: giáp huyện Hiệp Hoà (tỉnh Bắc Giang), huyện Yên Phong (tỉnh Bắc Ninh); Phía Nam: giáp huyện Đông Anh, Hà Nội; Phía Tây: giáp huyện Mê Linh, Hà Nội và Thành phố Phúc Yên (tỉnh Vĩnh Phúc). Sóc Sơn được bao quanh bởi 3 con sông: sông Công, sông Cầu ở phía Bắc, sông cà Lồ ở phía Đông Nam.

2. Diện tích, dân số:

Khi sáp nhập, Sóc Sơn có diện tích 41.508,6ha (415,086 km2); dân số hơn 130.000 người; khoảng 20.000 ha đất canh tác. Khi chuyển về trực thuộc Thành phố Hà Nội (4/1979), huyện Sóc Sơn có diện tích 306,5 km2, dân số khoảng 110.000 người. Hiện nay, Sóc Sơn có diện tích 304,76km2; diện tích đất nông, lâm nghiệp là 18.000 ha, trong đó, 4.557 ha quy hoạch rừng, gần 1.700 ha đất chuyên dụng dành cho Quốc phòng. Dân số của huyện là 358.789 người, mật độ trung bình 1.177 người/km2 (tính đến 31/12/2021).

3. Đơn vị hành chính:

Từ năm 1987 đến nay, Sóc Sơn có 25 xã và 01 thị trấn. Số thôn, làng, tổ dân phố hiện nay là 188 (năm 2021). Trên địa bàn huyện hiện có 125 cơ quan, trường học, đơn vị lực lượng vũ trang của Trung ương và Thành phố; hơn 3.000 doanh nghiệp đăng ký hoạt động; 9 trường Đại học, Cao đẳng, Trung học dạy nghề.

 

 4. Truyền thống văn hóa, lịch sử và đặc điểm của huyện khi thành lập:

4.1. Truyền thống lịch sử:

Là vùng đất có lịch sử lâu đời, Sóc Sơn hiện nay (Đa Phúc, Kim Anh trước đây) có vị trí chiến lược, từ lâu đã cận kề, bảo vệ cho các Kinh đô cổ của người Việt như : Phong Châu (Phú Thọ), Cổ Loa, Mê Linh và kinh thành Thăng Long - Đông Đô - Hà Nội. Chính vì thế, vùng đất Sóc Sơn hiện nay luôn có vị trí chiến lược quan trọng, nơi diễn ra nhiều trận quyết chiến chiến lược trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của dân tộc. Xa xưa như truyền thuyết Thánh Gióng đánh thắng giặc Ân đời Hùng Vương thứ sáu, đến các trận chiến bảo vệ thành Cổ Loa của An Dương Vương, khởi nghĩa của Hai Bà Trưng chống Nam Hán; các cuộc kháng chiến chống Tống thời Lê Hoàn năm 981, trận tuyến sông Như Nguyệt (sông Cầu) chống quân Tống xâm lược của Lý Thường Kiệt năm 1076; cuộc quyết chiến cầu Phù Lỗ trong cuộc kháng chiến chống Mông Nguyên lần thứ nhất (1258) của vua Trần Thái Tông…

Thời kỳ thực dân Pháp đô hộ, Sóc Sơn là địa bàn hoạt động của nghĩa quân Hoàng Hoa Thám, với sự kiện quân Đề Thám tế cờ ở đền Gióng núi Sóc khiến thực dân Pháp có hành động đốt phá đền năm 1910. Song với truyền thống yêu nước, bất khuất, Nhân dân Sóc Sơn và các vùng lân cận từ 1913-1920 đã đóng góp sức người, sức của phục dựng, xây dựng đền thờ Thánh Gióng to đẹp hơn, gìn giữ di tích biểu tượng cho truyền thống đánh giặc của cha ông đến muôn đời.

Nhân dân Sóc Sơn giàu lòng yêu nước, sớm giác ngộ, đi theo Đảng. Chi bộ Tân Yên (Hồng Kỳ) thành lập ngày 17/3/1933 - là Chi bộ đảng đầu tiên của tỉnh Phúc Yên và cũng là Chi bộ đầu tiên của khu vực nông thôn khu vực Bắc sông Hồng của Hà Nội. Tháng 12/1942, Chi bộ đầu tiên của huyện Kim Anh được thành lập tại thôn Xuân Kỳ (xã Đông Xuân), nơi đây trở thành cơ sở quan trọng của các đồng chí lãnh đạo Đảng như:Trường Chinh, Hoàng Quốc Việt, Nguyễn Lương Bằng, Trần Đăng Ninh về gây dựng và phát triển phong trào cách mạng ở Hà Nội và các tỉnh đồng bằng, Trung du Bắc Bộ, nơi Báo Cứu quốc - tiền thân của báo Đại Đoàn kết ra số báo đầu tiên.

Trong kháng chiến chống Pháp, với vị trí nằm giữa vùng địch hậu và vùng  căn cứ địa kháng chiến, thực dân Pháp đã xây dựng hàng loạt hệ thống đồn bốt hòng biến Sóc Sơn trở thành “vành đai trắng”. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, Nhân dân Sóc Sơn đã một lòng đi theo kháng chiến, diệt tề, phá ấp, công đồn, vừa đánh địch, vừa trở thành hậu phương chi viện cho căn cứ địa và các chiến trường. Tiêu biểu là liệt sĩ Trần Thị Bắc gắn liền với hình ảnh Núi Đôi đã đi vào văn thơ, sử sách, là Hội nghị quân sự Trung Giã - nơi ký các văn bản về đình chiến giữa ta và Pháp, thực hiện theo Hiệp định Giơ-ne-vơ về hòa bình, chấm dứt chiến tranh ở Đông Dương .

Trong kháng chiến chống Mỹ, hàng vạn thanh niên Sóc Sơn đã đã lên đường đánh giặc; quân và dân Sóc Sơn đã làm tốt nhiệm vụ chiến đấu và phục vụ chiến đấu. Sóc Sơn là nơi Trung đoàn 921 - Trung đoàn tiêm kích đầu tiên của Quân đội ta - đã lập nhiều chiến công vang dội. Đây cũng là nơi chiếc may bay B52 đầu tiên bị bắn rơi trên bầu trời miền Bắc trong chiến dịch “Điện Biên Phủ trên không” lịch sử tháng 12/1972.

4.2. Truyền thống văn hóa:

Là vùng đất có truyền thống lịch sử - văn hoá lâu đời, trên địa bàn huyện Sóc Sơn có nhiều lễ hội truyền thống và di tích lịch sử văn hóa. Đa số các lễ hội và di tích đều gắn với lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc, giải phóng quê hương, như Lễ hội Đền Sóc (từ 6 đến ngày 8 tháng Giêng), Lễ hội đền Thanh Nhàn (ngày 6 tháng Giêng), Lễ hội đền Tam Tổng (ngày 16 tháng 2 âm lịch), Lễ hội đền Hạ Mã (từ ngày 11 đến ngày 13 tháng 2 âm lịch); ngoài ra còn các lễ hội của các làng, xã trong huyện gắn với các sự kiện lịch sử văn hóa của địa phương, tiêu biểu như các di tích, lễ hội thờ đức thánh Tam Giang (anh em Trương Hống, Trương Hát) tại các làng, xã dọc sông Cà Lồ và sông Cầu.

Toàn huyện có 341 di tích lịch sử văn hóa, tôn giáo, tín ngưỡng, trong đó có nhiều di tích đã được xếp hạng quốc gia (01 di tích quốc gia đặc biệt - đền Sóc Sơn), gần 180 lễ hội dân gian mang đậm bản sắc văn hóa của đồng bằng Bắc Bộ (trong đó, lễ hội Gióng đền Sóc là di sản phi vật thể đại diện của nhân loại, di sản kéo mỏ tại lễ hội đền Bà ở Xuân Lai là di sản văn hóa phi vật thể cấp quốc gia)

Sóc Sơn cũng là vùng đất có truyền thống hiếu học, trong khoảng 5 thế kỷ gần đây có 12 người đỗ Đại khoa (không kể Hương Cống, Cử nhân và những học vị mới sau này) gồm 04 người đỗ Hoàng giáp, 08 người đỗ Đệ tam giáp Đồng tiến sĩ. Riêng xã Phù Lỗ có 05 vị đỗ Đại khoa, 04 vị đỗ Tạo sĩ (Tiến sĩ võ). Ngoài ra, trong lịch sử huyện Sóc Sơn còn có nhiều danh nhân nổi tiếng khác, như: Cụ Đống Vĩnh người xã Kim Lũ đã tham gia cuộc khởi nghĩa Lam Sơn (1418-1427) lập được nhiều chiến công, được Vua Lê phong là “Phúc thần”. Bà Ngô Chi Lan quê Phù Lỗ, nổi tiếng giỏi văn thơ được vua Lê Thánh Tông mời vào cung dạy các cung nữ và phong chức “Phù gia nữ học sĩ”. Chồng bà là Phù Thúc Hoành (người làng Phù Xá Đoài, xã Phú Minh) dạy học ở Quốc Tử Giám, sau chuyển sang Viện Hàn Lâm, thụ chức Đông các Đại học sĩ. Đỗ Viễn quê ở làng Thống Thượng (Tiên Dược) tự là Hữu Khắc, hiệu là Phố Sơn, đỗ Tiến sĩ năm Hồng Đức thứ 9 (1478), được Vua Lê Thánh Tông đổi tên gọi là Đỗ Cân, ông có tài văn chương, chính trị, từng làm tới chức Thượng Thư trong triều đình nhà Lê…

4.3. Đặc điểm của huyện khi thành lập:

Thời điểm thành lập huyện và sau đó sáp nhập về Hà Nội, Sóc Sơn là huyện có vị trí quan trọng, cửa ngõ phía Bắc của Thủ đô, có diện tích lớn nhất, chiếm gần 1/3 diện tích chung của Hà Nội, là vị trí đầu mối giao thông với hệ thống Quốc lộ 2, Quốc lộ 3, đường sắt Hà Nội - Thái Nguyên, gần 30km đường thủy sông Cà Lồ, sông Cầu và sông Công, đặc biệt có sân bay Quân sự và sân bay quốc tế Nội Bài. Sóc Sơn là địa bàn đóng quân của gần 30 đơn vị lực lượng vũ trang với nhiều Sư đoàn chủ lực của Quân đội (Sư đoàn 312, 371, 361…)

Tuy nhiên, Sóc Sơn còn gặp nhiều khó khăn với hạ tầng giao thông nội huyện thiếu thốn, xuống cấp, hầu như không có đường bê tông nhựa, diện tích canh tác lớn nhưng chủ yếu là đồi núi trọc, đất nông nghiệp bạc màu, thiếu chủ động về tưới tiêu; hệ thống trường học còn chưa đủ phủ khắp các xã. Kinh tế của huyện cơ cấu chủ yếu là nông nghiệp, toàn huyện chỉ có gần chục cơ sở sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ (cơ bản là các Công ty, xưởng sản xuất của Nhà nước và các Hợp tác xã); Nhân dân chủ yếu làm nông nghiệp, đời sống gặp nhiều khó khăn, số hộ đói nghèo cao.

II. THÀNH TỰU ĐẢNG BỘ, NHÂN DÂN VÀ CÁC LỰC LƯỢNG VŨ TRANG HUYỆN SÓC SƠN ĐẠT ĐƯỢC TRONG 45 NĂM QUA

Tháng 10/1977, Huyện ủy, bộ máy chính quyền và hệ thống chính trị huyện Sóc Sơn chính thức ra mắt và đi vào hoạt động.

Khắc phục những khó khăn những ngày đầu thành lập huyện, dưới sự lãnh đạo, quan tâm của tỉnh Vĩnh Phú và Thành phố Hà Nội, Đảng bộ, Nhân dân huyện Sóc Sơn đã phát huy truyền thống anh hùng, vượt qua nhiều khó khăn để phục hồi kinh tế sau chiến tranh, đưa Sóc Sơn ngày càng phát triển.

1. Thành tựu về kinh tế

1.1. Phát triển kinh tế

Tốc độ tăng trưởng bình quân 7,4%/năm giai đoạn 1996 -2000, tăng lên 10,43%/năm giai đoạn 2001-2005; Giai đoạn 2006-2010 tăng 12,37%;  Giai đoạn 2010-2015 tăng 8,71%; Giai đoạn 2015-2020 tăng 9,64%. Năm 2021 trong bối cảnh dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp nhưng tốc độ tăng trưởng kinh tế của huyện vẫn đạt 4,96% (cao hơn 1,9 lần so với cả nước và 1,5 lần so với Thành phố).

Tổng giá trị sản xuất trên địa bàn từ 2.079,9 tỷ đồng năm 2000 tăng lên 14.271,2 tỷ đồng năm 2010; đến năm 2021, tăng lên 18.223 tỷ đồng.

Cơ cấu kinh tế: Khi mới thành lập huyện, Nông nghiệp được xác định là lĩnh vực “Kinh tế trung tâm số một”. Đến nay, cơ cấu kinh tế của huyện có sự chuyển dịch tích cực sang Công nghiệp - Dịch vụ - Nông nghiệp.

Cơ cấu                 Năm               kinh tế (%)

1991

2000

2015

2021

Nông nghiệp

86,8

64

12,72

6,95

Dịch vụ

11

11,6

30,14

40,99

Công nghiệp - TTCN - xây dựng

2,2

24,4

57,14

52,06

Thu nhập bình quân đầu người năm 2010 đạt 18 triệu đồng/người/năm, năm 2015 đạt 29,8 triệu đồng/người/năm. Hết năm 2021, thu nhập bình quân đầu người đạt 56,2 triệu đồng/người/năm.

Kinh tế ngoài quốc doanh: Từ những năm 90, số doanh nghiệp ngoài quốc doanh của huyện tăng trưởng vượt bậc, đóng góp chủ yếu trong tổng giá trị sản xuất toàn huyện, nhất là ngành Công nghiệp - Tiểu thủ công nghiệp và Thương mại dịch vụ.

Số đơn vị sản xuất kinh doanh: Từ năm 1977-1988, cả huyện có 08 doanh nghiệp công nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, 14 doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ. Năm 2006, có 327 doanh nghiệp (trong đó có 34 doanh nghiệp liên doanh và doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài). Năm 2017, có 1.511 doanh nghiệp (trong đó 38 doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài do Cục thuế Hà Nội quản lý). Đến tháng 4/2022, số Doanh nghiệp đăng ký hoạt động là 2.741.

Phát triển các ngành dịch vụ: Đầu tư xây mới 03 trung tâm Chợ loại II Sóc Sơn tại: Thị trấn, phố Nỷ, Phù Lỗ và trên 20 Chợ nông thôn. Đồng thời, phát triển các cơ sở dịch vụ, du lịch, tập trung nhiều ở các khu vực như: Thị trấn, Trung Giã, Phù Lỗ, Phú Cường, Thanh Xuân, Cụm cảng Hàng không quốc tế Nội Bài. Trên địa bàn huyện hình thành 02 sân Golf tại xã Minh Trí và Hồng Kỳ, Phù Linh… Dịch vụ vận tải phát triển mạnh, hiện nay trên địa bàn có 14 tuyến xe buýt và 12 hãng taxi. Hệ thống các Ngân hàng tăng nhanh, bên cạnh Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Sóc Sơn, có sự tham gia của Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (Vietinbank), Ngân hàng đầu tư phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng TMCP kỹ thương Việt Nam (Techcombank), Ngân hàng TMCP ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Đông Nam Á (Seabank), Ngân hàng Quân đội (MB bank), Ngân hàng chính sách xã hội,...Mạng lưới viễn thông phát triển mạnh.

Thu ngân sách: Năm 1991 mới đạt 4.900 triệu đồng; đến năm 2016 đạt 400.774 triệu đồng; năm 2021 đạt 1.451.595 triệu đồng.

1.2. Xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội

Đường giao thông: Trước năm 2000, giao thông nông thôn chủ yếu là đường cấp phối. Đến năm 2014, hơn 95% đường thôn, xóm với hơn 1.000km, 85% đường trục liên thôn với gần 330km được bê tông hoá, 70km đường liên huyện, liên xã được nhựa hoá. Đến nay, toàn huyện có 25/25 xã đạt tiêu chí Nông thôn mới về giao thông.

Những năm qua, được sự quan tâm của Trung ương và Thành phố, trên địa bàn huyện được đầu tư, mở rộng nhiều tuyến giao thông trọng điểm như: Quốc lộ 2, Quốc lộ 3, Quốc lộ 18; Cao tốc Nội Bài-Lào Cai; Hà Nội-Thái Nguyên; đường Võ Nguyên Giáp, Võ Văn Kiệt; mở rộng, nâng cấp Tỉnh lộ 35, đường 131, đường 16; mở rộng Sân bay Quốc tế Nội Bài giai đoạn 1, giai đoạn 2; xây dựng Nhà ga hành khách T1, T2...

Điện: Hoàn thành dự án cải tạo, nâng cấp lưới điện nông thôn ở 100% số xã với mức đầu tư hàng trăm tỷ đồng, di dời cột điện tại các đường giao thông nông thôn sau khi mở rộng; xây mới, nâng cấp hệ thống trạm biến áp cơ bản đáp ứng  nhu cầu điện sinh hoạt, sản xuất, kinh doanh của Nhân dân. Đến nay, 25/25 xã đạt tiêu chí hệ thống điện trong xây dựng nông thôn mới. Huyện đã phối hợp với các Bộ ngành, Thành phố triển khai xây dựng các tuyến truyền tải 110kv, 220kv trên địa bàn đảm bảo an toàn, đúng tiến độ, đáp ứng yêu cầu phát triển các khu, cụm công nghiệp trong và ngoài huyện.

Thủy lợi: Xây dựng, cải tạo và nâng cấp hệ thống kênh mương thủy lợi, trạm bơm, đê điều, hồ chứa với tổng kinh phí hàng trăm tỷ đồng. Tính đến nay, cơ bản hệ thống kênh mương của huyện đã được cứng hóa, đảm bảo phục vụ tưới, tiêu trong sản xuất nông nghiệp; đảm bảo an toàn 32km đê trên địa bàn.

 Nước sạch: Đã hoàn thành dự án xây dựng hệ thống truyền dẫn nước sạch cho các xã ven Quốc lộ 2 (đến Phú Cường), Quốc lộ 3 (đến Phù Linh), cấp nước cho Khu đô thị, Khu công nghiệp Sóc Sơn; xây dựng hệ thống cấp nước sạch cục bộ cho khu liên hiệp xử lý chất thải Nam Sơn, vùng ảnh hưởng môi trường của 3 xã liền kề. Đến nay, tỷ lệ hộ dân được cấp nước sạch đạt 21%, tỷ lệ sử dụng nước hợp vệ sinh theo quy chuẩn quốc gia đạt 100%.

15 năm (2000-2015), thực hiện công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn, tổng vốn ngân sách đầu tư xây dựng cơ bản các xã, thị trấn trong huyện đạt trên 3.000 tỷ đồng. Trong đó, riêng 5 năm (2010-2015), đầu tư trọng điểm 74 dự án xây dựng Nông thôn mới, tổng số vốn lên đến 1.155 tỷ đồng.

Trong 5 năm 2016-2020, ngân sách đầu tư cho hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn đạt hơn 3.100 tỷ đồng.

1.3. Công tác trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng: Trước năm 1980, toàn huyện có 234 ha rừng thông trồng từ những năm 1960-1970; còn lại đều là đất trống, đồi núi trọc. Sau hơn 10 năm thực hiện chính sách giao đất, giao rừng, năm 1993, huyện Sóc Sơn cơ bản phủ xanh đất trống, đồi núi trọc. Hiện nay, toàn huyện có hơn 3.300 ha rừng trong tổng số 4.557 ha đất quy hoạch rừng phòng hộ môi trường. Rừng Sóc Sơn phát triển tốt, trở thành vành đai xanh của Thủ đô, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển du lịch sinh thái; công tác bảo vệ, phòng cháy, chữa cháy rừng được thường xuyên quan tâm.

1.4. Công tác quy hoạch - quản lý đô thị được tăng cường: Bộ mặt đô thị có nhiều đổi mới, cơ sở vật chất, hạ tầng được tăng cường, đặc biệt là hạ tầng nông nghiệp. Nhiều quy hoạch quan trọng được xây dựng, phê duyệt như giao thông nông thôn, thuỷ lợi; điều chỉnh quy hoạch rừng, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch các Cụm công nghiệp tập trung, các khu I, II, III, IV thuộc Khu du lịch đền Sóc, sân golf quốc tế; Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội; Quy hoạch chung huyện Sóc Sơn tỷ lệ 1/10.000; Quy hoạch đô thị vệ tinh Sóc Sơn tỷ lệ 1/5.000; Các phân khu chức năng đô thị vệ tinh Sóc Sơn; Quy  hoạch thị trấn Nỷ, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch nông thôn mới, quy hoạch trung tâm và các điểm dân cư tập trung của 25 xã ...Trên địa bàn huyện đã đầu tư xây dựng nhiều Khu đô thị, khu đất đấu giá, khu đất tái định cư mới, đáp ứng nhu cầu nhà ở và phát triển đô thị của huyện.

1.5. Công tác quản lý tài nguyên môi trường có chuyển biến rõ nét: Hiện nay, các dự án, các cơ sở sản xuất được cấp phép cơ bản có cam kết bảo vệ môi trường. Vệ sinh, môi trường nông thôn có nhiều chuyển biến tích cực, tổ chức thu gom, vận chuyển rác thải tại các xã, thị trấn đạt 100%.

1.6. Công tác giải phóng mặt bằng được triển khai tích cực: Với đặc điểm địa bàn rộng, đang trong giai đoạn công nghiệp hóa, đô thị hóa, những năm qua, công tác GPMB các dự án trên địa bàn Sóc Sơn được đặc biệt quan tâm, triển khai với số lượng rất lớn. Chỉ tính riêng giai đoạn 2010-2015, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn: khối lượng công việc lớn, liên quan đến 25% tổng số hộ dân (hơn 20.000 hộ, cơ quan, tổ chức), 40% các thôn xóm và 100% các xã, thực hiện tái định cư gần 1.000 hộ gia đình, di chuyển trên 10.000 ngôi mộ, hàng trăm công trình ngầm, nổi.... Đến nay, toàn huyện đã thực hiện GPMB hơn 2.000 ha, đảm bảo đúng tiến độ các dự án trọng điểm của Quốc gia và Thành phố như: Dự án đường cao tốc Nội Bài - Lào Cai, Nội Bài - Nhật Tân; Nhà ga T1, T2 Sân bay quốc tế Nội Bài; Quốc lộ 3B; dự án Khu liên hợp xử lý chất thải rắn Sóc Sơn; dự án mở rộng Bãi rác giai đoạn 2; dự án di dân vùng ảnh hưởng môi trường 0-500m Khu xử lý chất thải Sóc Sơn; dự án Trung tâm cai nghiện 03, 06; dự án Khu công nghiệp Nội Bài 115 ha; Cụm công nghiệp CN 3 gần 110 ha; Cụm công nghiệp vừa và nhỏ Mai Đình 65 ha..., đồng thời xây dựng hệ thống hạ tầng đồng bộ, các khu đấu giá, khu tái định cư, trường học... tạo điều kiện thuận lợi cho thu hút đầu tư vào địa bàn, hoàn thiện hệ thống hạ tầng kinh tế xã hội, nâng cao đời sống Nhân dân.

2. Thành tựu về văn hoá - xã hội:

Sau 45 năm, văn hóa - xã hội trên địa bàn huyện có nhiều thay đổi, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân không ngừng được cải thiện và nâng cao.

2.1. Giáo dục - đào tạo:

Năm 1977, cả huyện có 26 trường TH & THCS; 02 trường THPT (không có trường tầng, trường kiên cố). Với sự quan tâm đầu tư, chăm lo của Đảng bộ, chính quyền và nhân dân trong huyện, năm 2007, huyện hoàn thành chương trình kiên cố hoá trường học. Đến nay, toàn huyện có 114 trường (107 trường công lập; 02 trường hiệp quản, 05 trường ngoài công lập, hơn 40 trường Mầm non tư thục, nhóm trẻ gia đình; hệ thống trường công lập bao gồm 38 trường Mầm non, 36 Tiểu học, 27 THCS, 06 THPT, 01 Trung tâm GDNN-GDTX); đã chuyển 100% trường Mầm non nông thôn sang công lập. Tỷ lệ trường Mầm non, Tiểu học, THCS công lập đạt chuẩn quốc gia đạt 86,1% (87/101 trường), trong đó có 04 trường đạt chuẩn mức độ 2; 5/6 trường THPT đạt chuẩn quốc gia. Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đủ về số lượng, cơ cấu với hơn 5.000 người; 100% cán bộ quản lý đạt chuẩn, 100% giáo viên các cấp đạt chuẩn và trên chuẩn theo quy định của Luật giáo dục.

Hoàn thành phổ cập giáo dục Mầm non cho trẻ 5 tuổi, phổ cập giáo dục Tiểu học đúng độ tuổi mức độ 3, phổ cập giáo dục Trung học cơ sở mức độ 3, đạt chuẩn xoá mù chữ mức độ 2 đối với giáo dục từ xa; phổ cập Trung học phổ thông và tương đương đạt 96%. Thành lập Hội khuyến học cấp huyện, 26 hội khuyến học cấp xã, 386 chi hội khuyến học với 29.985 hội viên.

2.2. Sự nghiệp chăm sóc, bảo vệ và nâng cao sức khỏe nhân dân có nhiều tiến bộ. Hệ thống y tế từ huyện đến xã được tăng cường về cơ sở vật chất, trang thiết bị và đội ngũ cán bộ y tế. Chất lượng khám chữa bệnh được nâng lên. Các chỉ số: khám chữa bệnh, phẫu thuật, cận lâm sàng… năm sau cao hơn năm trước. Tỷ lệ bác sỹ/1 vạn dân tăng từ 0,2 (năm 1991) lên 6,4 (năm 2021). Số bác sỹ có trình độ trên đại học chiếm trên 40% tổng số bác sỹ hiện đang công tác trên địa bàn, một số bác sỹ có trình độ chuyên khoa cấp 2. Bệnh viện đa khoa Sóc Sơn được đầu tư xây mới thành bệnh viện hạng II với quy mô 24 Khoa - Phòng chức năng và 350 giường bệnh, thực hiện được nhiều kỹ thuật cao trong chẩn đoán và điều trị.

Trung tâm Y tế huyện đạt chuẩn Quốc gia với hệ thống 05 phòng khám Đa khoa khu vực và 26 trạm y tế trên địa bàn.100% xã, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế giai đoạn 2011-2020, đáp ứng nhu cầu khám chữa bệnh của Nhân dân. Các trạm y tế được đầu tư trang thiết bị hiện đại giúp nâng cao chất lượng công tác chăm sóc sức khoẻ Nhân dân tại cơ sở. Tỷ lệ người dân có thẻ BHYT đạt 91,5%.

2.3. Công tác dân số - gia đình và trẻ em được triển khai rộng khắp. Tỷ suất sinh giảm qua các năm: 1991-27,3‰; 2016 - 18,8‰; 2021 - 14,79‰. Công tác bảo vệ, chăm sóc trẻ em được thực hiện tốt. Toàn huyện có 20/26 xã, thị trấn đạt tiêu chuẩn xã, thị trấn phù hợp với trẻ em. Tỷ lệ trẻ em dưới 5 tuổi suy dinh dưỡng giảm từ 74% (năm 1986) xuống còn 12,3% (năm 2011) và 7,8% (năm 2021).

2.4. Công tác văn hoá, văn nghệ, thể dục thể thao có bước phát triển mạnh.

* Lĩnh vực Văn hoá thông tin:

- Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”, xây dựng làng văn hoá, cơ quan, đơn vị văn hoá và gia đình văn hoá được đẩy mạnh: Năm 2006: Có 86,5% số hộ gia đình đạt gia đình văn hoá; 17 làng văn hoá cấp thành phố, 58 làng văn hoá cấp huyện. Năm 2016: 90% số hộ đạt gia đình văn hóa; 65,8% thôn, làng đạt danh hiệu “Làng văn hóa”, 66,7% tổ dân phố đạt danh hiệu tổ dân phố văn hoá. Năm 2021, tỷ lệ gia đình văn hóa đạt 93,3%; thôn làng văn hóa đạt 85,7%; tổ dân phố văn hóa đạt 100%. Hiện nay, 15/25 xã có Trung tâm văn hoá xã, 180 thôn, tổ dân phố đã được xây dựng nhà văn hoá.

- Phong trào văn nghệ quần chúng phát triển mạnh, các loại hình văn nghệ dân gian được khôi phục và phát triển. Hệ thống thư viện được quan tâm, phát triển, đời sống tinh thần của Nhân dân nâng lên rõ rệt. 26/26 xã có Đài truyền thanh với gần 2.000 cụm loa, trong đó, 01 Đài truyền thanh không dây, 25 Đài truyền thanh có dây, đáp ứng tốt công tác tuyên truyền các nhiệm vụ chính trị của huyện.

- Toàn huyện có 341 di tích, 04 tượng đài và 13 di tích cách mạng, trong đó, 51 di tích được xếp hạng, gồm: 01 di tích xếp hạng Quốc gia đặc biệt (Đền Sóc), 14 di tích xếp hạng cấp Quốc gia và 36 di tích xếp hạng cấp Thành phố. Năm 2010, Lễ hội Gióng ở đền Sóc được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại.

*Lĩnh vực Thể dục thể thao: Khi mới thành lập, cơ sở vật chất phục vụ thể dục thể thao chưa được đầu tư, phong trào còn nhỏ lẻ. Đến nay, toàn huyện có: 01 nhà thi đấu hiện đại có sức chứa trên 2.000 khán giả (đã tổ chức thành công các môn thi đấu tại Sea Games 2003; Sea Games 31 năm 2021; Đại hội TDTT toàn quốc; Asia Indor Games...). Toàn huyện có 962 công trình thể thao đang hoạt động. Phong trào TDTT quần chúng phát triển mạnh; số người tham gia luyện tập TDTT thường xuyên đạt 34,7%; số hộ gia đình tham gia luyện tập TDTT thường xuyên chiếm 30,4%. Mỗi năm, huyện và các xã, thị trấn tổ chức hàng trăm cuộc thi đấu. Về thể thao thành tích cao: Từ năm 2004 đến nay, Sóc Sơn cung cấp 1.080 vận động viên cho tuyến trên, hàng trăm vận động viên tham gia các đội tuyển Quốc gia thi đấu giải Quốc tế và khu vực, đã giành gần 1.000 huy chương cá nhân và đồng đội mang lại vinh quang cho Tổ quốc và quê hương.

2.5. Đào tạo nghề, giải quyết việc làm và chính sách xã hội đạt nhiều kết quả tích cực.

Tỷ lệ lao động qua đào tạo tăng từ 24% năm 2010 lên 38% năm 2015, 55% năm 2020. Nhiệm kỳ 2015-2020, toàn huyện có 15.158 lao động được đào tạo trình độ sơ cấp nghề trở lên; tỷ lệ học sinh học nghề sau THCS đạt gần 20%; trung bình mỗi năm, giải quyết việc làm cho 7.800 lao động...

Từ một huyện có tỷ lệ số hộ đói nghèo cao, sau 45 năm nỗ lực phấn đấu của Đảng bộ và nhân dân huyện Sóc Sơn, công tác giảm nghèo của huyện đã đạt được những kết quả phấn khởi. Tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh từ 35% năm 1990 xuống còn còn 9,92% năm 2011. Cuối năm 2021, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới của huyện còn 0,54%. Tỷ lệ lao động tham gia BHXH trên 40%, gần 1,5% lao động tham gia BHXH tự nguyện.

3. Thành tựu về an ninh, quốc phòng

3.1. Công tác an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn được thực hiện tốt: Bảo vệ tuyệt đối an toàn các mục tiêu, các phương án các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nguyên thủ quốc gia đi qua hoặc đến địa bàn huyện; hàng nghìn sự kiện chính trị, văn hoá, xã hội trên địa bàn huyện... Trên lĩnh vực giữ gìn trật tự an toàn xã hội: hoàn thành việc đưa công an chính quy về xã, bước đầu đạt hiệu quả tích cực trong đảm bảo an ninh trật tự ngay từ cơ sở, đã huy động sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và Nhân dân tích cực tham gia đấu tranh, phòng ngừa với các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, phục vụ nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội của huyện trong 45 năm qua.

3.2. Công tác quốc phòng, quân sự địa phương

Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, lực lượng dự bị động viên có chất lượng ngày càng cao. Huy động hàng nghìn lượt cán bộ, chiến sỹ dân quân tự vệ trực sẵn sàng chiến đấu, tham gia phòng cháy chữa cháy rừng, phòng chống lụt bão, tìm kiến cứu nạn. Chỉ tính riêng 5 năm (2015-2000), đã huy động 13.787 lượt công an, quân đội, kiểm lâm, dân quân, người dân tham gia chữa cháy rừng, phòng chống thiên tai và các nhiệm vụ đột xuất khác. Hoàn thành 100% chỉ tiêu tuyển chọn, gọi công dân nhập ngũ. Tính riêng 5 năm (2015-2020), đã có hơn 1.000 công dân nhập ngũ, trong đó tỷ lệ có trình độ Đại học, Cao đẳng, Trung cấp chiếm gần 57%.

 Tổ chức tốt các cuộc diễn tập khu vực phòng thủ cấp huyện, cấp xã đảm bảo an toàn tuyệt đối, đạt yêu cầu đề ra, được Thành phố đánh giá cao. Thực hiện tốt công tác hậu phương Quân đội. Chi trả trợ cấp 1 lần cho 14.828 đối tượng hưởng theo các quyết định 290, 142, 62, 49 của Thủ tướng Chính phủ tổng số tiền hàng trăm tỷ đồng. Tính riêng từ 2015 đến 2020 đã hướng dẫn lập, thẩm định, xét duyệt trình cấp thẩm quyền ra quyết định giải quyết chính sách cho 8.216 đối tượng tham gia kháng chiến các thời kỳ theo quyết định 142, 62 và 49 của Thủ tướng Chính phủ, kinh phí đã chi trả 21.934,2 triệu đồng, không để xảy ra thắc mắc, khiếu kiện.

4. Kết quả xây dựng Đảng và hệ thống chính trị:

Suốt chặng đường 45 năm, hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở luôn được chú trọng, từng bước được củng cố và đổi mới nội dung, phương thức hoạt động.

4.1. Tổ chức bộ máy và hoạt động của các cấp chính quyền được củng cố, kiện toàn, hiệu lực, hiệu quả hoạt động được nâng lên. HĐND huyện, xã, thị trấn phát huy vai trò cơ quan quyền lực Nhà nước ở địa phương. Công tác quản lý Nhà nước trên các lĩnh vực được tăng cường. Công tác bố trí, điều động, luân chuyển cán bộ đảm bảo đúng quy định. Công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư, khiếu nại, tố cáo của công dân được chú trọng. Giải quyết thủ tục hành chính được tăng cường theo cơ chế “một cửa”, "một cửa liên thông". Công tác thi đua khen thưởng thường xuyên đổi mới về nội dung, hình thức, hướng về cơ sở.

4.2. Hoạt động của MTTQ và các đoàn thể chính trị-xã hội có nhiều đổi mới theo hướng thiết thực, hiệu quả, ngày càng thu hút, tập hợp đông đảo hội viên, đoàn viên tham gia. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” được tăng cường và ngày càng đi vào chiều sâu. Khối đoàn kết toàn dân được mở rộng và tăng cường, góp phần tích cực vào công tác xây dựng Đảng, chính quyền ngày càng vững mạnh.

4.3. Công tác xây dựng Đảng luôn được quan tâm chăm lo. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng có nhiều đổi mới về nội dung, hình thức; quá trình triển khai thực hiện các Chỉ thị, Nghị quyết Của Đảng gắn với thực hiện Nghị quyết TW 4 (khóa XI, XII, XIII) và Chỉ thị 05 về Học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Công tác cán bộ được xác định là khâu đột phá. Công tác phát triển đảng viên mới được thực hiện hiệu quả.

 Về xây dựng cán bộ: Khi mới thành lập huyện: tổ chức bộ máy Dân - Chính - Đảng của huyện gồm 18 cơ quan chuyên môn, 298 cán bộ, cơ bản chỉ có trình độ THCS, THPT, một số ít có trình độ Trung cấp, Cao đẳng, Đại học (Năm 1977, đội ngũ Trưởng, Phó các ban, ngành của huyện, Trình độ chuyên môn: Đại học (13,3%); Trung cấp (21,6%). Trung cấp lý luận chính trị (26,6%).

Năm 2020, tổ chức bộ máy cơ quan Huyện ủy, HĐND, UBND huyện gồm: 35 phòng, ban, đơn vị với 425 cán bộ, công chức, viên chức, lao động hợp đồng.

Nhiệm kỳ 2020 -2025, cán bộ diện Ban Thường vụ Thành uỷ và Huyện uỷ quản lý có 564 đồng chí, (khối xã, thị trấn 130 đồng chí). Trong đó, trình độ chuyên môn Đại học chiếm 97,9%;  trên Đại học  21,7%; Trung cấp lý luận chính trị: 92,7%; cán bộ nữ chiếm 16% ; cán bộ trẻ chiếm 2,6%.

Về đảng viên: Năm 1977, đảng bộ huyện có 5.493 đảng viên (nhiệm kỳ 1979-1982 phát triển 466 đảng viên; nhiệm kỳ 2015-2020 phát triển được 2.091 đảng viên mới). Tổng số đảng viên toàn đảng bộ đến tháng 5 năm 2022 là 14.972 (cao gấp 2,73 lần so với số đảng viên khi mới thành lập huyện). Tính từ năm 1985 đến tháng 5/2022, Đảng bộ huyện Sóc Sơn đã có 16.082 lượt đảng viên được trao tặng Huy hiệu từ 30 năm đến 75 năm tuổi Đảng.

Về tổ chức cơ sở Đảng: Ngày 01/4/1979, Đảng bộ huyện Sóc Sơn có 84 tổ chức cơ sở Đảng. Đến 31/5/2022, có 61 tổ chức cơ sở Đảng (41 Đảng bộ và 20 chi bộ cơ sở) với 474 chi bộ trực thuộc Đảng uỷ cơ sở. Tỷ lệ chi, Đảng bộ trong sạch vững mạnh tăng mạnh, từ 16% giai đoạn 1979 - 1982 lên 79,17% giai đoạn 2005-2010, những năm gần đây đạt trên 50%.

* Công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ: Đã mở được hàng nghìn lớp đào tạo và bồi dưỡng cán bộ cho hơn 100.000 lượt học viên. Trong đó có các lớp đào tạo, bồi dưỡng dài ngày (gồm các lớp Đại học, Trung cấp chuyên môn, Trung cấp lý luận chính trị, Trung cấp quản lý Nhà nước…) và các lớp bồi dưỡng ngắn ngày cho cấp ủy, MTTQ, các đoàn thể và các ngành, lĩnh vực.

* Công tác kiểm tra và kỷ luật của Đảng được tăng cường, đã góp phần ngăn chặn và xử lý kịp thời những sai phạm, củng cố và tăng cường năng lực lãnh đạo của Đảng, nâng cao ý thức chấp hành kỷ luật của đảng viên. Chỉ tính nhiệm kỳ 2015-2020 đã thi hành kỷ luật 14 tổ chức Đảng với 387 đảng viên.

* Công tác dân vận có nhiều tiến bộ, phát huy được ý thức, trách nhiệm của quần chúng thực hiện các chủ trương phát triển kinh tế - xã hội, củng cố hệ thống chính trị ở cơ sở; nâng cao ý thức, tinh thần trách nhiệm phục vụ Nhân dân của bộ máy Đảng, chính quyền cơ sở và cán bộ, đảng viên.

5. Những thành tích của huyện:

Nhân dân Sóc Sơn giàu lòng yêu quê hương, đất nước; kiên cường, bất khuất đấu tranh chống giặc ngoại xâm, trong 2 cuộc kháng chiến giải phóng dân tộc và trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc, huyện Sóc Sơn đã có 19.957 lượt người tham gia nhập ngũ, hơn 6.523 lượt người tham gia Thanh niên xung phong, dân công hỏa tuyến; nhân dân Sóc Sơn đóng góp hàng vạn ngày công, hàng nghìn tấn lương thực thực phẩm cho tiền tuyến.

Toàn huyện có 22 gia đình có công với nước, 3.168 liệt sĩ, 1.026 thương binh, 559 bệnh binh.

Trong 45 năm qua, Đảng bộ, chính quyền, các đơn vị và Nhân dân huyện Sóc Sơn đã nhận được nhiều danh hiệu thi đua và các phần thưởng cao quý do Đảng và Nhà nước trao tặng.

- Huyện Kim Anh và huyện Sóc Sơn được tặng danh hiệu Đơn vị “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” thời kỳ kháng chiến chống Mỹ; 18 xã được tặng danh hiệu “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân“ (06 xã trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp gồm: Phù Linh, Đức Hoà, Đông Xuân, Bắc Sơn, Hồng Kỳ, Nam Sơn và 12 xã trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ: Thanh Xuân, Phú Cường, Trung Giã, Tiên Dược, Phú Minh, Mai Đình, Phù Lỗ, Quang Tiến, Hiền Ninh, Tân Dân, Minh Phú, Minh Trí).

Toàn huyện có 233 Bà mẹ Việt Nam Anh hùng, 02 Anh hùng lực lượng vũ trang (Dương Văn Ngọ (xã Phú Minh), Trần Thị Bắc (xã Phù Linh), 01 Anh hùng lao động trong thời kỳ đổi mới (Nguyễn Văn Cường (xã Bắc Sơn).

- Trước năm 2010, Huyện Sóc Sơn được Chủ tịch nước tặng 03 Huân chương lao động (hạng Ba, hạng Nhì và hạng Nhất). Năm 2012, huyện được tặng Huân chương Độc lập hạng Ba; năm 2017, được tặng Huân chương Lao động hạng Nhất (lần thứ 2);  năm 2021 được tặng Huân chương Lao động hạng Ba (lần thứ 2).

Các phòng, ban, ngành, đoàn thể, các xã, thị trấn và các cá nhân trong huyện được tặng 148 Huân chương lao động các loại. Gần 1.500 lượt đơn vị, tập thể, cá nhân được nhận bằng khen của Thủ tướng Chính phủ, của các bộ, ban, ngành, đoàn thể của Trung ương, của tỉnh Vĩnh Phú và của Thành phố Hà Nội. Gần 5.000 lượt đơn vị, tập thể, cá nhân được nhận danh hiệu thi đua “Người tốt, việc tốt”, danh hiệu “Chiến sỹ thi đua các cấp”. Gần 1.500 lượt đơn vị, tập thể được nhận danh hiệu đơn vị thi đua quyết thắng. Hàng chục nghìn lượt các đơn vị, tập thể, cá nhân được nhận giấy khen các loại.

III. KẾT QUẢ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI

Ngày 05/8/2008, Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa X ban hành Nghị quyết số 26-NQ/TW về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Chính phủ ban hành Chương trình xây dựng nông thôm mới giai đoạn 2010-2020 (sau này là Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới 2016-2020). Thực hiện chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước, trên cơ sở các Nghị quyết, chương trình của công tác của Thành ủy, Huyện ủy Sóc Sơn đã xây dựng, ban hành các Nghị quyết và Chương trình về phát triển nông nghiệp, xây dựng nông thôn mới và nâng cao đời sống nông dân, tạo bước chuyển quan trọng trong phát triển nông nghiệp, nông thôn, nông dân của huyện.

1. Phát triển nông nghiệp

- Thực hiện dồn điền, đổi thửa: Năm 2010, Huyện ủy Sóc Sơn ban hành Nghị quyết về thực hiện “Dồn điền đổi thửa trong nông nghiệp”, trở thành huyện đầu tiên của Thủ đô thực hiện công tác này, với mục tiêu giảm số thửa ruộng tren mỗi hộ nông dân, quy hoạch lại đất đai, đồng ruộng, phát triển hệ thống hạ tầng giao thông, thủy lợi nội đồng, tạo điều kiện cho phát triển nông nghiệp hàng hóa, tập trung, chất lượng cao. Nghị quyết đã được Huyện ủy-HĐND-UBND huyện và cấp ủy, chính quyền địa phương đã tập trung chỉ đạo quyết liệt, hiệu quả với phương châm thận trọng, bài bài, vừa làm vừa rút kinh nghiệm.Thường trực Huyện ủy Sóc Sơn xác định công tác DĐĐT trong nông nghiệp là một trong những trọng điểm trong nhiệm kỳ 2010-2015.

Trên cơ sở kết quả thực hiện thí điểm DĐĐT ở 02 xã Tân Hưng và Minh Trí, huyện Sóc Sơn đã rút ra những bài học kinh nghiệm để tiếp tục chỉ đạo triển khai trên toàn bộ địa bàn, tạo thành phong trào cách mạng sôi nổi trong Nhân dân. Hết năm 2016, toàn huyện đã tiến hành dồn điền đổi thửa tại 121 thôn, với tổng diện tích trên 10.845 ha; 31.924 hộ đã thực hiện dồn điền đổi thửa với tổng số 94.119 thửa. Sau dồn điền đổi thửa, mỗi hộ gia đình có bình quân 2,5 thửa ruộng (giảm bình quân 8,6 thửa). Toàn huyện dôi dư 965 ha đất bổ sung vào quỹ đất công tạo điều kiện quy hoạch cơ sở hạ tầng, công trình phúc lợi tại các địa phương. Số hộ đã dồn điền đổi thửa và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 30.692 hộ, đạt tỉ lệ 96,14% số hộ. Qua công tác DĐĐT, Nhân dân đã tin tưởng vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng, chính quyền các cấp; áp dụng khoa học kỹ thuật mới, đưa cơ giới hóa đồng bộ vào sản xuất nông nghiệp nhằm giảm chi phí, tăng năng suất lao động, nâng cao đời sống người nông dân. Sóc Sơn được xác định là nơi khởi nguồn cho phong trào DĐĐT trên địa bàn toàn Thành phố.

- Nhiều mô hình sản xuất hình thành: Đến nay Sóc Sơn có 10 mô hình ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất nông nghiệp. Huyện đã thực hiện chuyển dịch cơ cấu cây trồng với các giống lúa chất lượng cao (tăng 35% so với năm 2010), rau hữu cơ (diện tích 35,5 ha), cây ăn quả (diện tích 1.415 ha), dược liệu (diện tích 31 ha), hoa và cây cảnh (diện tích 15,9 ha); năng suất các loại cây trồng tăng 10-15% so với năm 2010; huyện đã xây dựng được 07 thương hiệu tập thể, 08 chuỗi liên kết sản xuất, phát triển được 61 sản phẩm OCOP (trong đó: 03 sản phẩm 03 sao và 58 sản phẩm 04 sao).

Đến nay, Sóc Sơn đã có nhiều mô hình sản xuất nông nghiệp hiệu quả cao, như: Mô hình sản xuất lúa diện tích lúa nếp cái hoa vàng đặc sản tập trung tại 3 xã Phú Minh, Bắc Phú, Tân Hưng; xây dựng thương hiệu và giao trách nhiệm quản lý nhãn hiệu sở hữu tập thể “Nếp cái hoa vàng” cho Hội Nông dân huyện Sóc Sơn, giá trị sản xuất 11,4 tỷ đồng/năm. Mô hình sản xuất bưởi Diễn 250 ha với nhãn hiệu sở hữu tập thể “Bưởi sạch Sóc Sơn”, giao cho Hội làm vườn Sóc Sơn vận hành hiệu quả, giá trị sản xuất 80 tỷ đồng. Mô hình sản xuất hoa nhài 148 ha tập trung tại các xã Phù Lỗ, Đông Xuân, Bắc Phú, Tân Minh, Phú Minh, Phú Cường, liên kết với Hiệp hội Hoa nhài bao tiêu sản phẩm an toàn, ổn định, giá trị sản xuất 59,2 tỷ đồng/năm. Mô hình sản xuất rau an toàn 330 ha (tập trung tại các xã Thanh Xuân, Đông Xuân, Mai Đình, Quang Tiến, Hiền Minh, Tân Dân, Minh Trí, Trung Giã, Xuân Giang, Tiên Dược), trong đó có 37 ha rau hữu cơ với nhãn hiệu sở hữu tập thể “Rau hữu cơ Sóc Sơn”, giá trị sản xuất 115,15 tỷ đồng/năm. Mô hình sản xuất chè an toàn 200 ha tập trung tại xã Bắc Sơn với nhãn hiệu sở hữu tập thể “Chè an toàn Bắc Sơn”, giá trị sản xuất 70 tỷ đồng/năm. Mô hình trồng hoa tại các xã Xuân Giang, Minh Trí, Minh Phú, Đông Xuân với giá trị sản xuất 60,6 tỷ đồng/năm...vv.

Giai đoạn 2010-2020, Huyện đã hỗ trợ phát triển sản xuất nông nghiệp với kinh phí hơn 27,5 tỷ đồng. Ngoài ra, các ngành của Thành phố hỗ trợ các mô hình  sản xuất với tổng kinh phí khoảng 40 tỷ đồng. Nguồn vốn Nhân dân đầu tư cho sản xuất nông nghiệp trong 10 năm đạt trên 2.200 tỷ đồng

2. Xây dựng Nông thôn mới:

Khi bắt đầu xây dựng nông thôn mới, Sóc Sơn là huyện có xuất phát điểm thấp. Chỉ có 05/19 tiêu chí đạt (Bưu điện; Nhà ở dân cư; Giáo dục và Đào tạo; an ninh trật tự xã hội và hệ thống tổ chức chính trị xã hội vững mạnh); 08/19 tiêu chí đạt trên 50% (Điện; Giao thông; Thủy lợi; Trường học; Thu nhập; Y tế; Văn hóa và môi trường); 06/19 tiêu chí chưa đạt hoặc đạt thấp là các tiêu chí còn lại; cả 25 xã chưa có đồ án quy hoạch xã nông thôn mới, quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế - xã hội - môi trường. Hạ tầng kinh tế - xã hội khó khăn, thiếu đồng bộ. Đời sống của Nhân dân còn thấp, năm 2010 thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn chỉ đạt 18,1 triệu đồng/người/năm; tỷ lệ hộ nghèo chiếm 15,04%. Trên địa bàn huyện có đến 21 xã trọng điểm, phức tạp về an ninh trật tự.

Năm 2009, Mai Đình là một trong ba xã được Thành phố chọn làm điểm xây dựng mô hình nông thôn mới và đã hoàn thành 19/19 tiêu chí sau hơn 2 năm triển khai. Sau xã Mai Đình, 24 xã còn lại đồng loạt triển khai thực hiện. Sau 5 năm thực hiện Chương trình xây dựng Nông thôn mới, từ chỗ trung bình mỗi xã đạt 5/19 tiêu chí (03 xã là Quang Tiến, Tân Dân, Hồng Kỳ không đạt tiêu chí nào) đến năm 2020, Sóc Sơn đã có 25/25 xã được công nhận đạt chuẩn NTM. Cụ thể:

- Năm 2013 xã Mai Đình được UBND Thành phố công nhận đạt chuẩn NTM năm 2013 tại Quyết định số 2173/QĐ-UBND ngày 22/4/2014.

- Năm 2014 có 04 xã gồm: Phú Cường, Phù Lỗ, Thanh Xuân, Tiên Dược được UBND Thành phố công nhận đạt chuẩn NTM năm 2014 tại Quyết định số 530/QĐ-UBND ngày 02/02/2015.

- Năm 2015 có 07 xã gồm: Đông Xuân, Đức Hoà, Minh Trí, Phù Linh, Phú Minh, Tân Hưng, Trung Giã được UBND Thành phố công nhận đạt chuẩn NTM đợt 2 tại Quyết định số7470/QĐ-UBND ngày 31/12/2015.

- Năm 2016 có 03 xã gồm: Tân Dân, Hiền Ninh, Xuân Giang được UBND Thành phố công nhận đạt chuẩn NTM năm 2016 tại Quyết định số 279/QĐ-UBND ngày 14/01/2017.

- Năm 2017 có 03 xã gồm: Hồng Kỳ, Nam Sơn, Quang Tiến được UBND Thành phố công nhận đạt chuẩn NTM năm 2017 tại Quyết định số 1780/QĐ-UBND ngày 12/4/2018.

- Năm 2018 có 02 xã gồm: Bắc Phú, Việt Long được UBND Thành phố công nhận đạt chuẩn NTM đợt 2 năm 2018 tại Quyết định số 7090/QĐ-UBND ngày 28/12/2018

- Năm 2019 có 04 xã đạt gồm: Bắc Sơn, Kim Lũ, Tân Minh, Xuân Thu được UBND Thành phố công nhận đạt chuẩn NTM năm 2019 tại Quyết định số 504/QĐ-UBND ngày 30/01/2020.

- Năm 2020 có 01 xã Minh Phú được UBND Thành phố công nhận đạt chuẩn NTM năm 2020 (đợt 1) tại Quyết định số 3353/QĐ-UBND ngày 03/8/2020.

Đến năm 2021 huyện Sóc Sơn có 9/9 tiêu chí đạt theo Bộ tiêu chí huyện NTM. Ngày 06/4/2021, Thủ tướng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định số 546/QĐ-TTg công nhận huyện Sóc Sơn đạt chuẩn nông thôn mới năm 2020.

Giai đoạn từ năm 2010 -2020, huyện đã bố trí 4.419.295 triệu đồng (Trong đó: (Ngân sách Trung ương: 01 tỷ đồng; Ngân sách Thành phố: 930,33 tỷ đồng; Ngân sách huyện: 697,716 tỷ đồng; Ngân sách xã: 115,787 tỷ đồng; vốn lồng ghép: 1.388,018 tỷ đồng; vốn doanh nghiệp, HTX: 478,832 tỷ đồng; vốn đóng góp từ Nhân dân: 511,467 tỷ đồng; vốn huy động từ các nguồn khác: 296,145 tỷ đồng), để tập trung đầu tư, xây mới 527,1 km;  cải tạo, nâng cấp 276 km đường giao thông liên xã, liên thôn, đường ngõ xóm, đường trục chính nội đồng; xây mới 144,15 km kênh mương cấp 3; 128,26 km đường dây trung thế; 42,49 km đường dây hạ thế; 88 trạm biến áp;  xây dựng mới và cải tạo sửa chữa 117 trường học, 10 Trung tâm văn hóa tại các xã; xây mới, cải tạo, sửa chữa 97 Nhà văn hóa thôn, tổ dân phố; xây dựng mới 03 chợ; cải tạo, nâng cấp 15 chợ;  xây dựng mới 04 trạm y tế, cải tạo, nâng cấp 15 trạm y tế…

 3. Nâng cao đời sống nông dân:

Bám sát Chương trình số 02-CTr/TU của Thành ủy Hà Nội; Huyện ủy-HĐND- UBND huyện Sóc Sơn- BCĐ chương trình xây dựng NTM của huyện đã tập trung chỉ đạo quyết liệt cùng với sự nỗ lực phấn đấu của các cấp, các ngành và toàn thể Nhân dân, việc triển khai Chương trình xây dựng NTM đã đạt được những kết quả quan trọng. Sau 10 năm thực hiện, tư duy, nhận thức của cán bộ và Nhân dân đã chuyển biến tích cực. Từ chỗ coi chương trình là một dự án đầu tư của Nhà nước, thì nay đã xác định lấy sức dân là chính, người dân vừa là chủ thể và là đối tượng thụ hưởng, Nhà nước đóng vai trò hỗ trợ. Do đó, Nhân dân các địa phương trong huyện đã tự nguyện hiến đất, hiến công trình, đóng góp kinh phí để mở rộng đường giao thông nông thôn và xây dựng các công trình phúc lợi. 10 năm qua, Nhân dân trên địa bàn huyện đã hiến gần 31.000m2 đất thổ cư, hàng nghìn công trình phụ trợ trị giá trên 100 tỷ đồng để phục vụ chương trình xây dựng nông thôn mới. Tiêu biểu như các xã: Phú Cương, Tân Dân, Nam Sơn, Hồng Kỳ, Tân Hưng, Xuân Giang, Tân Minh, Kim Lũ…

Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 18,1 triệu đồng/người/năm (năm 2010) lên 56,2 triệu đồng/người/năm (năm 2021). Đời sống vật chất, tinh thần của Nhân dân ngày càng được nâng cao; diện mạo nông thôn ngày càng khang trang, tươi đẹp. Truyền thống hiếu học được duy trì và phát triển; chất lượng chăm sóc sức khỏe và khám chữa bệnh cho nhân dân ngày càng được cải thiện; số lao động có việc làm thường xuyên và số lao động được đào tạo liên tục tăng qua các năm, năm 2010 tỷ lệ hộ nghèo 15,04% đến 2021, tỉ lệ hộ nghèo giảm xuống còn 0,54% theo chuẩn mới.

Các di tích lịch sử văn hóa được tôn tạo và phát huy, tệ nạn xã hội được kiểm soát và đẩy lùi, hoạt động văn hóa, thể dục thể thao ngày càng phát triển. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được đảm bảo, dân chủ ở cơ sở được phát huy. Phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc phát triển mạnh; huyện luôn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quốc phòng, quân sự địa phương. Hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở ngày càng được củng cố vững mạnh toàn diện.

*Đánh giá chung:

Những năm qua, huyện Sóc Sơn đã bám sát sự chỉ đạo của Thành phố, vận dụng linh hoạt các Nghị quyết, Chỉ thị của cấp trên; lãnh đạo, huy động sự vào cuộc tích cực của hệ thống chính trị và các tầng lớp nhân dân, vượt qua nhiều khó khăn thách thức, thực hiện và đạt kết quả tích cực trên tất cả các lĩnh vực.

Những năm qua, kinh tế của huyện tăng trưởng khá. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng; huyện đã tập trung nguồn lực xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội theo hướng đồng bộ, hiện đại; công tác quản lý quy hoạch, quản lý và phát triển đô thị, trật tự xây dựng, tài nguyên, môi trường, quản lý, bảo vệ rừng, phòng chống thiên tai, cứu nạn, cứu hộ được chủ động triển khai, chỉ đạo quyết liệt; hoàn thành mục tiêu xây dựng nông thôn mới. Văn hoá - xã hội có nhiều tiến bộ, an sinh xã hội được đảm bảo, hoạt động đối ngoại được mở rộng. An ninh chính trị được giữ vững, trật tự an toàn xã hội ổn định, quốc phòng được tăng cường.

Phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng, hoạt động chính quyền, MTTQ và các tổ chức chính trị - xã hội tiếp tục đổi mới. Củng cố, sắp xếp tinh gọn bộ máy, nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng được được tăng cường...Những thành tựu sau 45 năm xây dựng và phát triển của huyện Sóc Sơn hòa cùng vào dòng chảy với thành tựu chung sau hơn 35 năm thực hiện công cuộc đổi mới của Đảng.

IV. NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG LỚN PHÁT TRIỂN CỦA HUYỆN THỜI GIAN TỚI

Theo quy hoạch xây dựng Thủ đô Hà Nội đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050, Sóc Sơn là một trong năm Đô thị vệ tinh của Thủ đô Hà Nội. Đô thị vệ tinh Sóc Sơn là đô thị phát triển về công nghiệp và dịch vụ hàng không, du lịch nghỉ dưỡng sinh thái, hình thành các khu, cụm công nghiệp sạch, tổ hợp y tế, khu Đại học tập trung. Khai thác tiềm năng Cảng Hàng không quốc tế Nội Bài, hành lang kinh tế xuyên Á Côn Minh - Hà Nội - Quảng Ninh, vùng cảnh quan Núi Sóc và chân núi Tam Đảo. Là đô thị cửa ngõ phía Bắc Thủ đô, kết nối với đô thị Trung tâm qua tuyến Quốc lộ 3, Thăng Long - Nội Bài, Nhật Tân - Nội Bài. Đến năm 2030, dân số khu Đô thị vệ tinh khoảng 0,25 triệu người, đất xây dựng đô thị 5.500 ha, đất dân dụng khoảng 1.900 ha.

Nghị quyết số 15-NQ/TW ngày 05/5/2022 của Bộ Chính trị về "Phương hướng, nhiệm vụ phát triển Thủ đô Hà Nội đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045", đã xác định nhiều nội dung, định hướng, giải pháp cho sự phát triển của Thủ đô, trong đó có huyện Sóc Sơn như: “trọng tâm là Quy hoạch Thủ đô thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; điều chỉnh tổng thể Quy hoạch chung xây dựng Thủ đô đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050 với Sông Hồng là trục xanh, cảnh quan trung tâm, phát triển đô thị hài hoà hai bên sông của Hà Nội. Nghiên cứu tăng tỉ lệ đất phát triển đô thị; xây dựng mô hình thành phố trực thuộc Thủ đô tại khu vực phía Bắc (vùng Đông Anh, Mê Linh, Sóc Sơn)…,xây dựng đô thị thông minh trên cơ sở phát triển khu vực hai bên trục Nhật Tân - Nội Bài; ... Quy hoạch xây dựng khu vực nông thôn hài hoà, gắn với phát triển đô thị, giữ gìn bản sắc văn hoá truyền thống, kết nối đồng bộ với quy hoạch khu vực đô thị; khai thác hiệu quả cảnh quan thiên nhiên vùng nông thôn kết hợp với phát triển du lịch xanh… Phấn đấu hoàn thành đường Vành đai 4 trước năm 2027 và chuẩn bị đầu tư, xây dựng đường Vành đai 5 trước năm 2030. Mở rộng, nâng cấp sân bay quốc tế Nội Bài”.

Từ định hướng của Trung ương, Thành phố, từ quy hoạch chung và quy hoạch đô thị vệ tinh đã được phê duyệt sẽ mở ra cho Sóc sơn những thời cơ thuận lợi để phát triển kinh tế-xã hội trong thời gian tới.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Sóc Sơn lần thứ XII, nhiệm kỳ 2020-2025 đã xác định mục tiêu đến năm 2025, định hướng đến 2030 là:

“Đảng bộ trong sạch vững mạnh, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ được nâng cao, sức mạnh đại đoàn kết toàn dân được phát huy; kinh tế phát triển nhanh, bền vững theo hướng Dịch vụ - Công nghiệp - Nông nghiệp gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động; quy hoạch và đầu tư hệ thống hạ tầng hoàn thiện đồng bộ, hiện đại, môi trường bền vững; văn hóa xã hội phát triển, nguồn nhân lực có chất lượng cao, an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân nâng cao; giữ vững an ninh, quốc phòng. Có những tiền đề quan trọng để xây dựng huyện Sóc Sơn đến năm 2030 trở thành vùng phát triển, đô thị vệ tinh của Thủ đô”.

Đại hội xác định 5 nhiệm vụ trọng tâm gồm:

Một là, tiếp tục tạo chuyển biến mạnh mẽ trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới phương thức lãnh đạo nâng cao năng lực, sức chiến đấu của tổ chức Đảng và đảng viên. Xây dựng hệ thống chính trị từ huyện đến cơ sở trong sạch, vững mạnh.

Hai là, tập trung phát triển kinh tế; đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ: dịch vụ (48%) - công nghiệp (47%) - nông nghiệp (5%), gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động; đẩy mạnh đầu tư và chủ động thu hút đầu tư theo hướng công nghiệp - nông nghiệp sạch, công nghệ cao - du lịch sinh thái.  

Ba là, tiếp tục xây dựng và quản lý tốt các quy hoạch, gắn với quản lý tài nguyên, môi trường. Làm tốt công tác giải phóng mặt bằng, xây dựng hạ tầng.

Bốn là, xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn kiểu mẫu; phát triển văn hoá- xã hội; nâng cao chất lượng giáo dục đào tạo; chú trọng phòng chống dịch bệnh, chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân; đảm bảo tốt an sinh xã hội.

Năm là, tăng cường củng cố thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh Nhân dân, đảm bảo an ninh trật tự trong mọi tình huống.

Đại hội cũng xác định hai khâu đột phá của huyện:

Một là, tập trung mọi nguồn lực, chủ động thu hút đầu tư xây dựng hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội theo hướng đồng bộ, hiện đại.

Hai là, đẩy mạnh cải cách hành chính, kỷ luật, kỷ cương; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức.

Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XII đề ra 18 chỉ tiêu và 10 nhóm nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu về phát triển kinh tế xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị của huyện trong giai đoạn 2020-2025.

Trên cơ sở Nghị quyết của Đại hội, Ban chấp hành Đảng bộ huyện khóa XII đã xây dựng, ban hành và chỉ đạo thực hiện 5 chương trình công tác giai đoạn 2020-2025 gồm: (1) Tăng cường công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng, xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị huyện trong sạch, vững mạnh; (2) Đẩy mạnh thực hiện hiệu quả chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới gắn với cơ cấu lại ngành nông nghiệp và phát triển kinh tế nông thôn, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nông dân; (3) Giảm hộ nghèo, tăng hộ khá giàu; (4) Tăng cường đảm bảo an ninh nông thôn, đô thị trên địa bàn huyện; (5) Đẩy mạnh cải cách hành chính; đồng thời xây dựng, ban hành, chỉ đạo thực hiện 02 Đề án công tác toàn khóa gồm: (1) Củng cố, nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ, (2) Phát triển giáo dục, đào tạo.

Thực hiện Nghị quyết, các Chương trình, đề án công tác của Huyện ủy, HĐND và UBND huyện đã cụ thể hóa trong các Nghị quyết, Kế hoạch 5 năm 2021-2025 và hàng năm với một số mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp cụ thể:

(1). Tốc độ tăng trưởng tổng giá trị sản xuất bình quân từ 11,0 - 12,0%/năm trong đó: Dịch vụ 14,5 - 15,5%; công nghiệp, xây dựng 9,5 - 10,5%; nông, lâm, thủy sản 2,5 - 3,0%.

(2). Cơ cấu kinh tế đến hết năm 2025: Dịch vụ (48,0%) - Công nghiệp, xây dựng (47,0%) - Nông, lâm, thủy sản (5,0%).

(3). Thu nhập bình quân đầu người 2025: 70 - 75 triệu đồng/người/năm.

(4). Thu ngân sách Nhà nước (không kể đấu giá quyền sử dụng đất): tăng bình quân 10-12% /năm.

Riêng đấu giá quyền sử dụng đất, huyện xây dựng kế hoạch đến 2025 thu khoảng 7.800 tỷ đồng, cơ bản đảm bảo việc cân đối cho kế hoạch đầu tư công với tổng kinh phí các dự án hơn 9.000 tỷ đồng, tập trung vào các dự án giao thông, trường học, chỉnh trang hạ tầng nông thôn, các dự án thủy lợi, thoát nước...

(5). Duy trì, nâng cao chất lượng các tiêu chí xây dựng nông thôn mới; phấn đấu đến hết 2025 có 40% số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 30% số xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu.

(6). Tỷ lệ trường công lập đạt chuẩn quốc gia: 85%, trong đó có ít nhất 08 trường đạt chuẩn mức độ 2.

(7). Tỷ lệ người dân tham gia Bảo hiểm y tế  95%; Tỷ lệ trong độ tuổi lao động tham gia Bảo hiểm xã hội 45%, Bảo hiểm thất nghiệp 35%.

(8). Tỷ lệ hộ gia đình được cung cấp nước sạch: 100%.

(9) Tập trung hoàn thành xây dựng và được cấp thẩm quyền phê duyệt Quy hoạch vùng huyện, các quy hoạch phân khu đô thị vệ tinh, điều chỉnh Quy hoạch rừng, làm căn cứ để triển khai các dự án xây dựng, phát triển kinh tế xã hội.

Với truyền thống lịch sử, văn hóa đáng tự hào, phát huy thành tựu xây dựng và phát triển 45 năm qua, dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự quan tâm của Trung ương và Thành phố, Đảng bộ và Nhân dân huyện Sóc Sơn quyết tâm phấn đấu xây dựng quê hương ngày càng phát triển giàu đẹp, văn minh, trở thành đô thị của Thủ đô trong tương lai gần./.

 

                                                BAN TUYÊN GIÁO HUYỆN ỦY

THỐNG KÊ TRUY CẬP

Đang online: 1473
Lượt truy cập trong tuần: 4222
Lượt truy cập trong tháng: 9442
Lượt truy cập trong năm: 732269
Tổng số truy cập: 4617085